HIỆP SỐNG TIN MỪNG CN LỄ HIỂN LINH (Is 60,1-6 ; Ep 3,2-3a.5-6 ; Mt 2,1-12) THÀNH ÁNH SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG CHO THA NHÂN

I.HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG : Mt 2,1-12
(1) Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem (2) và hỏi : “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện đang ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”. (3) Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu ? (5) Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng : (6) “Phần ngươi hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa. Ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa. Vì ngươi là nơi Vị Lãnh Tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”. (7) Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin qúi ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho Trẫm, để Trẫm cũng đến bái lạy Người”. (9) Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại xuất hiện dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người. Rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
2. Ý CHÍNH: NHỜ ÁNH SAO DẪN ĐƯỜNG, DÂN NGOẠI ĐÃ TÌM THẤY CHÚA.
Khi Đức Giê-su giáng sinh tại Bê-lem, có mấy đạo sĩ từ phương Đông đã theo ngôi sao lạ đi tìm Đấng Cứu Thế. Nhờ ánh sao dẫn đường và sau khi vượt qua nhiều trở ngại, cuối cùng các ông đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế. Các ông đã biểu lộ đức tin bằng thái độ sụp lạy và tiến dâng lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Sau đó, các ông vâng lời thiên thần để theo con đường khác trở về quê hương.
3. CHÚ THÍCH :
– C 1-2 : +Vua Hê-rô-đê : Đây là Hê-rô-đê Đại Vương, một con người đa nghi, độc ác và tham quyền cố vị, băng hà vào năm 4 sau Công Nguyên (x. Mt 2,15). Phân biệt với Hê-rô-đê An-ti-pa hay Hê-rô-đê Con, kế vị vua cha cai trị xứ Ga-li-lê. Hê-rô-đê Con cũng độc ác không kém vua cha. Chính ông đã ra lệnh chém đầu Gio-an Tẩy Giả và có lần đã xét xử Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn của Người. +Mấy nhà chiêm tinh : Cũng gọi là đạo sĩ, đến từ phương Đông (x. Ds 23-24). Đây là những nhà thông thái, am tường khoa chiêm tinh. Dựa vào 3 lễ vật họ dâng mà người ta quả quyết có 3 vị. Truyền thuyết dân gian còn kể tên 3 vị ấy: Melchior da trắng ; Gaspar da vàng ; Balthaza da đen để nói lên rằng: Ơn cứu độ phổ quát cho mọi dân tộc, màu da hay tiếng nói, không chỉ riêng cho dân Do Thái.
– C 5-6 : +Họ trả lời : “Tại Bê-lem.”.. : Có một sự đối nghịch về thái độ đối với Đấng Cứu Thế giữa dân Do Thái và lương dân: Các thượng tế và kinh sư là những người dựa vào Kinh Thánh biết rõ nơi sinh của Hài Nhi Cứu Thế là Bê-lem, nhưng lại thờ ơ. Đang khi dân ngoại vất vả đi tìm Người. +Thành Bê-lem : Là một thị trấn nhỏ thuộc miền núi xứ Giu-đê, cách Giê-ru-sa-lem 10 cây số về phía Nam. Bê-lem này là quê hương của vua Đa-vít (x. 1 Sm 16,1 tt).
– C 7-8 : +Hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện : Vì Hê-rô-đê muốn biết đích xác tuổi của Hài Nhi Cứu Thế và đã ra lệnh cho quân lính giết các trẻ nam tại Bê-lem và vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống.
– C 9-10 : +Ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại xuất hiện dẫn đường cho họ : Đây là một ngôi sao có những đặc tính khác thường như: Lúc ẩn lúc hiện, lúc đi trước dẫn đường và lúc thì dừng lại… do Thiên Chúa ban, để trợ giúp các nhà chiêm tinh đi tìm Hài Nhi Cứu Thế.
– C 11-12 : +Họ vào nhà : Chắc chắn sau đêm Chúa giáng sinh, hai ông bà Giu-se Ma-ri-a không tiếp tục cư ngụ tại cánh đồng Bê-lem vì thiếu các tiện nghi tối thiểu mà đã vào thị trấn Bê-lem thuê một căn nhà ở tạm.+ Sấp mình bái lạy Người : Các đạo sĩ biểu lộ đức tin Hài Nhi là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. + Lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến : Các nhà chiêm tinh dâng lên Hài Nhi ba lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược, là đặc sản của quê hương các ông. Vàng tượng trưng đức tin, nhũ hương tượng trưng đức cậy và mộc dược tượng trưng đức mến. Theo các giáo phụ thì Vàng ám chỉ tước vị Vua, nhũ hương chỉ tước vị Tư Tế, mộc dược ám chỉ cuộc tử nạn và mai táng bằng dầu thơm sau này. + Đi lối khác về xứ mình : Hê-rô-đê không thể chống lại quyền năng, tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Những ai chống lại Thiên Chúa sớm muộn cũng sẽ thất bại và chuốc lấy hậu quả tai hại cho mình mà thôi.
4. CÂU HỎI : 1) Phân biệt Hê-rô-đê Đại Vương khác với vua Hê-ro-đê An-ti-pa thế nào trong sự đối xử với Đức Giê-su và về sự gian ác quỷ quyệt ? 2) Các nhà chiêm tin trong Tin Mừng có phải là vua không ? Vì sao người ta gọi là 3 vua và theo truyền thuyết thì tên ba vị là gì và mang ý nghĩa như thế nào ? 3) Các thượng tế và kinh sư Do thái dựa vào đâu mà nói nơi sinh của Đấng Cứu Thế là Bê-lem ? So sánh giữa thái độ của các nhà thông thái của dân Do thái và của các đạo sĩ ngoại giáo trước việc Đấng Cứu Thế ra đời như thế nào ? 4) Hê-rô-đê hỏi về ngày giờ ngôi sao lạ xuất hiện để làm gì ? 5) Các đạo sĩ biều lộ đức tin thế nào khi gặp Hài Nhi Cứu Thế ? 6) Ý nghĩa tượng trưng của ba lễ vật các đạo sĩ dâng là gì? Các giáo phụ giải thích ba lễ vật như thế nào ?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA : “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).
2. CÂU CHUYỆN :
1) MÓN QUÀ CỦA VỊ ĐẠO SĨ THỨ TƯ :
Chuyện kể rằng, khi ba đạo sĩ là Gaspar, Melchior, Balthazar và đoàn tùy tùng vừa đi khỏi làng Be-lem, thì vị đạo sĩ thứ tư cũng vội chạy đến. Ông cũng đã nhìn thấy ngôi sao lạ và cũng như ba ông kia, ông dắt vào lưng ba viên ngọc quí là gia sản quí nhất của ông và vội vã lên đường. Nhưng sau cùng, ông đã đến trễ vì gặp nhiều sự cố phải giải quyết trên đường : ba vị kia đã gặp Chúa rồi và đã trở về nhà rồi !… Còn ông vừa đến trễ và nhất là lại chỉ đến với hai bàn tay trắng… vì không còn viên ngọc quí nào làm lễ vật dâng cho Hài Nhi Cứu Thế…
Đến nơi, ông nhẹ tay mở cửa chuồng bò để vào thăm bé Giê-su, Mẹ người và người cha nuôi của Người. Trời tối, ông thấy Giu-se đang nằm nghỉ trên đống rơm, bé Giê-su thì đang say ngủ trong lòng Mẹ.
Rón rén, vị đạo sĩ thứ tư tiến lại gần, phục mình dưới chân bé Giê-su và Mẹ Người và bắt đầu thưa với Người qua dòng nước mắt :
– Lạy Chúa, con đến để dâng lên ngài lễ vật giống như các vị đạo sĩ kia, đó là ba viên ngọc quý to như trứng bồ câu. Nhưng giờ đây con lại không còn viên nào nữa… Con thấy ba vị kia đi trước con ngồi trên lạc đà, con định tiến nhanh lên để đi chung với họ. Nhưng rồi rượu ngon, tiếng chim hót làm con say mê. Tối hôm đó con đã ngủ lại trong một quán trọ. Khi bước vào quán, con thấy một cụ già đau nặng đang lên cơn sốt rét nằm co quắp run rẩy bên lò sưởi. Ngày mai, ông sẽ bị chủ quán đuổi ra ngoài đường nếu không trả tiền ở trọ. Lạy Chúa, xin tha cho con, con đã lấy một viên ngọc trong túi ra và đưa cho chủ quán để nhờ ông này tìm thầy chạy thuốc chữa bệnh và nếu ông lão có bị chết, thì cũng có đủ tiền trả chi phí an táng cho ông.
Ngày hôm sau, con ra đi, giục con lừa của con chạy đuổi theo ba vị kia, vì họ đi bằng lạc đà chậm hơn con. Con đường con đi qua thật vắng vẻ và nhiều cây cối. Một hôm, đang đi thì con nghe thấy có tiếng kêu cứu phát ra từ một bụi rậm. Con nhảy xuống lừa và thấy mấy tên lính đang hãm hiếp một thiếu phụ trẻ. Họ đông quá, con không đủ sức chống lại. Lạy Chúa, xin tha cho con : Một lần nữa con lại đưa tay vào túi lấy ra viên ngọc thứ hai để xin chuộc lại người thiếu phụ. Cô ta hôn tay con rồi vội vã chạy như bay vào con đường dẫn lên núi.
Giờ đây chỉ còn lại một viên ngọc duy nhất trong túi. Con tiếp tục lên đường. Ít ngày sau, con đã tới gần thị trấn Be-lem. Lúc đó đã quá trưa, con nghĩ mình sẽ cố đến nơi trước khi trời tối. Nhưng kìa một bọn lính đang hung hăng đốt phá một ngôi làng nhỏ. Con hỏi thăm người đi đường thì biết bọn lính đang thi hành lệnh vua Hê-rô-đê là giết tất cả các con trẻ từ hai tuổi trở xuống tại Be-lem và vùng phụ cận. Bấy giờ một tên lính đang nắm trên tay một em bé trần truồng, đưa qua đưa lại trước mặt. Đứa bé dãy dụa khóc thét vì sợ. Tên lính nói với mẹ đứa trẻ : ”Bây giờ tao sẽ cho con mày vào đống lửa và nó sẽ bị thiêu cháy như một con heo sữa !” Người mẹ thì đang quì lạy và gào khóc dưới chân tên lính. Không chịu nổi cảnh ấy, một lần nữa, con lấy ra viên ngọc cuối cùng trao cho tên lính để yêu cầu trả con cho bà mẹ. Mẹ nó ôm chặt lấy con, vội chạy trốn đi không kịp nói lời cám ơn. Lạy Chúa, thế là cuối cùng con đã đến đây với hai bàn tay trắng. Xin Chúa tha cho con…
Nói xong ông sấp mặt sát đất hồi lâu. Thinh lặng bao trùm chuồng bò. Rồi ông từ từ ngước nhìn lên thì thấy ông Giu-se đã thức dậy, bé Giê-su vẫn nằm trong tay Mẹ Ma-ri-a. Bé quay mặt về phía ông, chìa đôi tay tí hon ra trước mặt ông. Hai mẹ con đều nhìn ông mỉm cười như gián tiếp tiếp nhận các món quà bác ái yêu thương ông đã quảng đại thực hiện cho các người bệnh tật nghèo khổ trước đó…
2) ĐỨC TIN ĐƯỢC CHIẾU SÁNG BẰNG VIỆC TẶNG QUÀ CHO THA NHÂN :
Trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, chủ tịch Liên Xô Gorbachov đã trao tặng và nhận quà. Nhà lãnh đạo của Liên Xô đã tặng cho Đức Thánh Cha một tập Kinh Thánh, Thánh Vịnh in vào thế kỷ 13 và 14. Món quà là cuốn Kinh Thánh có ý khẳng định rằng giá trị đạo đức và luân lý Kitô giáo là những nhân tố cần thiết để xây dựng xã hội tốt đẹp.
Đáp lại Đức Thánh Cha đã tặng cho nhà lãnh đạo Liên Xô một quyển Tân Ước có ghi hàng chữ : “Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và toàn thể Giáo Hội muốn trao tặng Đức Kitô cho một xã hội đã từ lâu quên lãng Thiên Chúa.
Riêng bà Raissa, phu nhân chủ tịch Gorbachov, Đức Thánh Cha đã tặng cho bà một cổ tràng hạt. Mẹ Ma-ri-a là nữ vương hòa bình. Do đó, đây là món quà rất cao quý mà một vị giáo hoàng muốn tặng cho một vị phu nhân chủ tịch hay những ai đang mưu tìm hòa bình cho nhân loại.
3) ĐỨC TIN ĐƯỢC CHIẾU SÁNG BẰNG VIỆC CẢM THÔNG VỚI THA NHÂN :
Có một bé gái cùng với mẹ đi viếng hang đá. Bà mẹ giải thích cho em rằng ba nhà Đạo Sĩ dâng tiến của lễ cho Chúa Hài Nhi là vàng, nhũ hương và mộc dược. Cô bé nhìn Hài Nhi trong máng cỏ một cách cung kính rồi quay sang hỏi mẹ: “Tại sao các đạo sĩ không mang đến cho Chúa Hài Nhi một cái giường nhỏ, mà để Chúa phải nằm trong máng rơm lạnh lẽo như vậy hả mẹ ?”
Một tấm lòng và một sự quan tâm thực sự đến nhu cầu của tha nhân. Cô bé cảm nhận được nhu cầu của cuộc sống thực tế đời thường. Sự kiện Chúa Giê-su sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ đã khơi dậy được tâm tư và sự cảm thông của lòng em gái này. Chúa đến trong nghèo nàn để mời gọi chúng ta cùng chia sẻ tâm tình với những người cùng khổ nghèo đói chung quanh chúng ta. Nhu cầu thực tế của cuộc sống là miếng cơm manh áo và một chỗ để nương thân. Hài Nhi Giê-su đã chạm đến cái cùng cực nghèo khó của thân phận con người. Từ đó, Chúa mời gọi chúng ta: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”(Mt 25, 40).
4) ĐỨC TIN ĐƯỢC CHIẾU SÁNG BẰNG VIỆC CÔNG KHAI CẦU NGUYỆN :
ARTHUR JONES gia nhập không lực Hoàng gia, anh được huấn luyện trong một trại lính cùng với 30 binh sĩ khác. Ngay đêm đầu tiên, anh đã phải cân nhắc về một quyết định : “Có nên quì gối đọc kinh như thói quen ở nhà không ?”. Ban đầu anh cảm thấy hơi ngượng, nhưng rồi anh tự nhủ : “Chẳng lẽ mình phải thay đổi cách sống vì sợ kẻ khác dòm ngó sao ?”
Anh liền quyết định cứ quì gối đọc kinh như thói quen. Khi vừa làm dấu kết thúc buổi cầu nguyện, mọi người mới biết anh là người Công giáo. Hơn nữa, anh lại là người Công giáo duy nhất trong trại lính. Tuy nhiên, anh vẫn quì gối cầu nguyện hàng đêm, và sau đó thường dẫn đến những cuộc tranh cãi hàng giờ.
Cuối khóa huấn luyện, có người đến nói với anh :
– Anh là người Kitô hữu tốt nhất mà tôi gặp.
Anh liền đáp lại:
– Cám ơn bạn, tôi không nghĩ mình là Kitô hữu tốt nhất đâu. Có thể tôi là người Công giáo dám công khai biểu lộ đức tin.
Ánh sáng Đức Tin của người lính đã tỏa sáng trong trại huấn luyện của không lực hoàn gia. Đúng như lời Đức Giê-su đã nói: “Các con là ánh sáng thế gian” (x. Mt 5,14-16). Như ánh sao lạ đã mọc lên để dẫn đường cho các đạo sĩ, ngôi sao Tin Mừng cũng đã xuất hiện để soi dọi vào tâm hồn tăm tối của chúng ta. Để từ đây, ánh sáng đức tin luôn tỏa rạng ngời.
3. SUY NIỆM :
1) XIN THÌ SẼ ĐƯỢC; TÌM THÌ SẼ GẶP; GÕ THÌ SẼ MỞ :
Khi hay tin Đấng Cứu Thế mới ra đời, thái độ của các người liên quan như thế nào ?
– Các mục đồng nghèo khó : đang chăn giữ đoàn chiên ở vùng phụ cận Be-lem đã mau lên đường đi tìm kiếm Hài Nhi Cứu Thế dựa theo dấu chỉ mà sứ thần đã cho họ biết. Vua Hê-rô-đê và hoàng cung nghe tin đã đi tìm nhưng không phải để triều bái Người như vua đã nói với các đạo sĩ, nhưng là để tìm giết Người. Còn dân thành Giê-ru-sa-lem thì hoảng hốt, thay vì vui mừng trước tin Đấng Cứu Thế đã ra đời. Riêng các thượng tế và luật sĩ có sự hiểu biết Lời Chúa trong Kinh Thánh, đã có thể chỉ đường cho các đạo sĩ hãy tìm Đấng Cứu Thế tại Be-lem, nhưng chính họ lại không thiết tha đi tìm. Chỉ có các vị đạo sĩ khi nhìn thấy ngôi sao lạ bên trời Đông, đã vội vã chuẩn bị lễ vật và lên đường tìm kiếm. Các ngài đã trải qua nhiều nỗi vất vả và trắc trở và cuối cùng đã tìm thấy Hài Nhi Cứu Thế. Họ đã sụp lạy, dâng tiến lễ vật và nghe lời sứ thần mộng báo, họ đã chọn đi theo con đường khác trở về quê hương mà không quay lại với con đường gian ác của vua Hê-rô-đê muốn tìm giết Hài Nhi mới sinh.
– Các vị đạo sĩ : chỉ có một dấu hiệu mơ hồ là ánh sao lạ trên bầu trời, nhưng họ đã can đảm ra đi và kiên trì tìm kiếm, nên đã được Chúa trợ giúp vượt qua những gian nan để tìm thấy Hài Nhi Cứu Thế, rồi tin thờ Người và được hưởng ơn cứu độ Người ban cho. Ngày nay cũng có rất đông anh chị em lương dân đang miệt mài nghiên cứu tìm kiếm sự thật trong các lãnh vực : khoa học kỹ thuật, triết lý, nghệ thuật…, đang cố gắng tu tập để nên tốt hơn dựa theo ánh sáng giới hạn là các điều thiện hảo nơi các tôn giáo ngoài Kitô giáo, hay đang tận tâm lo bảo về môi trường trái đất ngày một an toàn tốt đẹp hơn. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa vẫn đang đồng hành với họ mà họ không hay biết. Xin cho họ sớm nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong trật tự lạ lùng nơi vũ trụ, và giúp họ sớm nhận biết Chúa Giê-su là “sự thật toàn vẹn, sự sống đời đời và là đường duy nhất dẫn đưa loài người lên trời gặp Thiên Chúa”.
– Các thượng tế và kinh sư : Khi được hỏi Đức Kitô sinh ra ở đâu, thì họ đã trả lời vanh vách: Tại Be-lem, miền đất Giuđa, vì trong sách tiên tri có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Be-lem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”. Sự hiểu biết của họ thật chính xác, nhưng mới chỉ là hiểu biết theo sách vở, nên đã không đủ mạnh để thúc đẩy họ hành động dấn thân đi tìm Chúa.
– Mỗi người tín hữu hôm nay : Nguyên việc tin thờ Chúa tại nhà thờ, nghe Lời Chúa giáo huấn là điều cần, nhưng chưa đủ để giúp chúng ta đón nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúa đòi chúng ta còn phải luôn đi tìm Chúa và thực thi thánh ý của Ngài qua việc học sống Lời Chúa trong Thánh Kinh, và thánh lễ và qua các dấu chỉ của thời đại. Rồi khi đã tìm gặp Chúa, chúng ta còn phải chu toàn sứ vụ làm cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Chúa đến để ban ơn cứu độ cho mọi người, nhưng không phải hết mọi người đều được ơn cứu độ, mà chỉ những ai tin và đi theo con đường của Chúa Giê-su.
2) ĐIỀU KIỆN ĐỂ TÌM GẶP ĐƯỢC CHÚA :
– Muốn tìm thấy Chúa đòi phải hy sinh : Các đạo sĩ đã phải rời khỏi nhà, sẵn sàng đón nhận bất ngờ trong cuộc sống : Họ nghĩ Đấng Cứu Thế phải là con của nhà vua, phải sinh ra tại kinh thành hoa lệ, nên họ đã đến thủ đô Giê-ru-sa-lem rồi vào hoàng cung hỏi : “Vua Do thái mới sinh hiện ở đâu ?” Nhưng Hài Nhi Cứu Thế lại không sinh ở nơi giàu sang, mà tại hang chiên bò hôi tanh, trong hình hài một trẻ thơ mới sinh yếu đuối « bọc trong tã và nằm trong máng cỏ » nghèo hèn.
– Muốn tìm thấy Chúa đòi phải dấn thân đi tìm : Các Thượng tế và kinh sư biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế là thành Bê-lem, nhưng lại không đi tìm, đang khi các đạo sĩ dù chỉ suy đóan mơ hồ, nhưng họ lại quyết tâm lên đường tìm kiếm, nên cuối cùng họ đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế.
– Muốn đi tìm Chúa cần phải chuẩn bị hành trang : Khi đi tìm Chúa, các đạo sĩ đã chuẩn bị lễ vật mang theo là các đặc sản của quê hương như : vàng, nhũ hương và mộc dược làm lễ vật dâng tiến Hài Nhi. Những lễ vật này chỉ là những biểu hiệu của lễ vật thiêng liêng là đức Tin, đức Cậy và đức Mến. Khi dâng vàng, các đạo sĩ cũng tuyên xưng vương quyền của Hài Nhi Giê-su. Dâng nhũ hương, các ngài nhận Hài Nhi là tư tế của Giao Ước Mới; Dâng mộc dược là các ngài đề cao mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đấng Thiên Sai sau này.
– Gặp được Chúa thực sự sẽ giúp biến đổi nên người mới : Sau khi gặp Chúa, các đạo sĩ đã nghe lời sứ thần mộng báo, để không quay lại với vua Hê-rô-đê độc ác, nhưng đã chọn đi đường khác trở về quê hương mình. Đây cũng là bài học cho chúng ta : Một khi đã gặp được Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ, chúng ta sẽ dứt khoát với tội lỗi gian ác, để quyết tâm đi theo đường tin yêu là khiêm tốn phục vụ Chúa nơi tha nhân, nhất là nơi những người nghèo hèn.
3) SỨ MẠNG TRỞ THÀNH ÁNH SÁNG DẪN ĐƯỜNG CHO THA NHÂN :
Trong cuộc sống đời thường, có nhiều điều như ánh sao dẫn chúng ta đến với Chúa. Có thể là :
– Một câu Lời Chúa trong kinh thánh đánh động lòng ta.
– Một bài giảng hay trong thánh lễ thuyết phục ta.
– Một lời khuyên chân tình của người trên nhắc nhở ta.
– Một gương sáng khiến ta xúc động quyết tâm noi theo.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong Giáo lý Năm Thánh 2000 cũng viết : “Việc giáo dân tham dự và cùng có trách nhiệm trong cộng đồng Kitô hữu, cùng với nhiều hình thức tông đồ và phục vụ của họ trong xã hội, khiến chúng ta có lý mà hy vọng rằng, vào buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ ba, sẽ có một cuộc “hiển linh” trọn vẹn và tốt đẹp nơi thành phần giáo dân”.
4) THỰC THI SỨ MẠNG LÀM ÁNH SAO DẪN ĐƯỜNG CHO LƯƠNG DÂN :
Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao lạ soi dẫn giúp mọi người đến với Chúa.
– Ngôi sao cần phải chiếu sáng : Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi bản thân nó có ánh sáng. Người Ki-tô hữu cũng chỉ chiếu sáng khi cuộc sống của họ có ánh sáng, phản chiếu ánh sáng đón nhận từ ơn Chúa ban và từ việc thực hành Lời Chúa trong Thánh Kinh.
– Phải chiếu ánh sáng lạ là hành động tin yêu : Tin kính Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu để sẵn sàng tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối của chia rẽ thù hận, bất hoà bè phái. Tin yêu là ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi nhau, con người trở nên thân thiện với nhau, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng sống hơn.
– Phải chiếu ánh sáng công bình, bác ái thể hiện sự thánh thiện thực sự : Tin Chúa được biểu lộ bằng sự tôn trọng lối sống công bình trong cuộc sống. Yêu Chúa còn phải thể hiện qua lối sống bác ái yêu thương tha nhân cụ thể.
Tất cả những làn ánh sáng công bình bác ái nói trên sẽ trở thành lòng đạo đức thánh thiện thực sự. Một người chỉ mong tìm kiếm vật chất tiền bạc sẽ luôn sống trong bóng tối tuyệt vọng. Chỉ có ánh sáng của sự thánh thiện thực sự mới đủ sức phá tan bóng tối tội lỗi và làm cho thế giới ngày một chan hòa hạnh phúc bình an.
– Phải chiếu ánh sáng lạ là niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa : Niềm hy vọng một “Trời Mới Đất Mới” cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội ngày một tốt hơn. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng đời sau giúp chúng ta ý thức về giá trị giới hạn của cải vật chất đời này, để luôn tin cậy vào ơn cứu độ của Chúa như lời Chúa phán : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Còn các thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
4. THẢO LUẬN :
1) Ngày nay bạn có thấy Chúa tiếp tục tỏ mình ra nơi những người lương hay không ? 2) Bạn sẽ làm gì để trở thành ngôi sao lạ dẫn đường cho các bạn bè lương dân tin nhận Chúa và đi theo Người ?
5. NGUYỆN CẦU :
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Biết bao lần chúng con đến nhà thờ nhưng đã không gặp được Chúa. Đạo con giữ mới chỉ gồm các thói quen đạo đức; Lễ con dâng chỉ là những lời kinh nhàm chán; Của cải con cho người nghèo chỉ là những thứ đồ hư vất bỏ… Nhưng con lại tưởng mình đang đạo đức thánh thiện và làm chứng cho Chúa. Ước gì hôm nay con nhận ra những thiếu sót của mình, để của lễ con dâng phải là thứ vàng đức tin quý giá, là nhũ hương của đức cậy khiêm nhu, là mộc dược của lòng hy sinh mến Chúa nồng nàn. Hy vọng Chúa sẽ vui nhận, và ban muôn hồng ân cho chúng con. Để khi gặp được Chúa, như các vị đạo sĩ xưa, chúng con sẽ tránh xa những thói gian ác lọc lừa, sẵn sàng làm theo Lời Chúa dạy, luôn sống hiệp nhất xin vâng và phục vụ, để sau này được về quê trời hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa.- AMEN.
LM ĐAN VINH – HHTM